• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Yên Bái.
 
NƠI HỘI TỤ VĂN HÓA DÂN TỘC KINH
Ngày xuất bản: 29/06/2016 7:29:54 SA

                                                                          Nhà Văn Hà Lâm Kỳ

            Yên Bái xưa thuộc tỉnh Hưng Hóa là địa bàn miền núi Trung du, có đầu mối giao thông đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và hai con sông lớn bắt nguồn từ Trung Quốc.  Do đầu mối giao lưu như vậy, Yên Bái trở thành nơi sớm xuất hiện và tụ hợp của đồng bào dân tộc Kinh. Họ sống tập trung ở các trung tâm tỉnh lỵ, huyện lỵ, dọc sông Hồng, sông Chảy và các trục đường quốc lộ.

            Năm 1961, tại xã Đào Thịnh huyện Trấn Yên phát hiện một thạp đồng lớn, trên nắp thạp có hình các cặp nam nữ đang giao phối biểu thị sự tồn tại của nòi giống. Năm 1964 tại hang Hùm, Lục Yên tìm thấy bộ hài cốt người Việt cổ có tên là Hômôsapiên cách đây 8 vạn năm, tiến sỹ Kal người Đức đã đến hang Hùm kiểm tra trước khi khẳng định hiện vật quý này. Năm 1996 tại núi Chọi xã Hợp Minh, Trấn Yên đào được một thạp đồng trong đó có bộ hài cốt của một bé gái sáu tuổi gần như còn đầy đủ cùng các vật tuỳ táng cách đây 2000 năm (xác định của Viện nhân chủng học Việt Nam). Nhiều tư liệu khảo cổ lưu giữ tại Bảo tàng Yên Bái cho thấy con người của thời kỳ Hùng Vương và sau Hùng Vương cứ trú ở Trung tâm Yên Bái và vùng đất Thu Vật xưa. Theo Kiến văn tiểu tục (quyển 2) của Lê Quý đôn thì năm 1533 anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên người Kinh ở huyện Gia Lộc Hải Dương phù Lê chống Mạc, chạy lên Thu Vật (huyện Yên Bình ngày nay), Vũ Văn Mật xưng là chúa Bầu tập hợp người dân tộc thiểu số và người Kinh khắp các nơi xây thành đắp luỹ trấn ải một vùng. Trước đó, năm 1285 tướng quân Trần Nhật Duật đời vua Trần Nhân Tông, đã chỉ huy quân đội chiến đấu chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai trên đất Thu Vật. Như vậy người Kinh có mặt ở Yên Bái rất sớm và họ đã cùng với đồng bào các dân tộc thiểu số hòa nhập để cùng mở mang khai phá vùng đất. Gia phả họ Phạm, người Tày ở Trấn Yên và Văn Chấn ghi rõ “cụ Tổ” Phạm Bá Lực quê gốc ở Hải Dương lên Yên Bái tính đến năm 1997 là chín đời. Đình làng Dọc (xã Việt Hồng) dựng năm 1937 là ngôi đình duy nhất còn lại đến ngày nay thờ ông tổ họ Phạm nói trên.

            Sự định cư của đồng bào Kinh trên vùng đất Trung du miền núi không xa cố đô Phong Châu đã mang theo những nét văn hóa đặc sắc của người Việt giao hòa với nét văn hóa riêng của dân tộc thiểu số tạo nên bản sắc văn hóa khác lạ rất đáng quý của dân tộc Kinh Yên Bái, góp phần tôn phong giá trị văn hóa chung của nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái.

            Trước hết là làng xóm: nếu như nhà trình tường đất, cụm xóm tre xanh, cây đa giếng nước mái đình… là đặc trưng nơi ở của người Kinh đồng bằng Bắc bộ thì khi hòa nhập với đồng bào miền núi dân tộc đặc điểm đó không còn. Thay vào đấy là thôn làng chạy dọc các tuyến đường hoặc phân tán quanh các thung lũng, khe suối. Nhà ở không là tường đất, lợp rơm rạ mà đại đa số lịa ván bốn xung quanh, lợp cọ, nền, sân, công trình phụ được xây đắp bằng các vật liệu khoáng sản sẵn có như cao lanh, đá vôi. Cũng không ít gia đình làm nhà sàn để ở như dân tộc thiểu số, theo họ, vừa để tận hưởng cảnh quan đồi núi, vừa hài hòa với cuộc sống của đồng bào dân tộc.

            Chữ viết được duy trì nghiêm ngặt theo quy định của hiến pháp quốc gia từng thời kỳ lịch sử, nhưng tiếng nói có phần chuyển hóa. Người kinh ở miền Trung, ở Hà Tây, Thái Bình… khi nói, có những âm tiết được phát âm khác nhau, nhiều từ địa phương khác nhau mặc dù cùng để chỉ một hiện vật. Quá trình định cư ở Yên Bái các phát âm và từ địa phương ấy bị mất dần, thế hệ thứ ba thứ tư sau định cư không còn quen với tiếng nói quê gốc. Một đặc điểm là đồng bào Kinh nhập tâm tiếng của người dân tộc rất nhanh, sống với vùng dân tộc nào chỉ một vài năm là người Kinh có thể hiểu được nội dung và nói chuyện thông thường với dân tộc ấy, thậm chí cảm hóa, thức tỉnh người dân tộc thiểu số chỉ trong một thời gian ngắn. Điều này rất rõ trong lịch sử Yên Bái. Đầu thế kỷ 19 lãnh tụ Cần Vương Nguyễn Quang Bích quê ở Thái Bình đã thu phục hàng chục tù trưởng người dân tộc thiểu số khi ông đóng “đại bản doanh” kháng chiến ở Mường Lò. Khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học năm 1930 cũng được rất nhiều gia đình là nghĩa sỹ dân tộc tham gia. Đặc biệt Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 và cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều cán bộ cách mạng của Đảng từ dưới xuôi lên đã dựa vào nhân dân các dân tộc để xây dựng cơ sở kháng chiến, làm nên những chiến khu Vần, chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ, Đại Bục, Đại Phác… Có thể nói tiếng nói, tình cảm, trí tuệ và sự hòa nhập cùa người Kinh đối với vùng đất miền núi dân tộc Yên Bái, vừa lưu giữ được phẩm chất truyền thống, vừa làm nên giá trị văn hóa của dân tộc mình.

            Trang phục và trang sức của người Kinh Yên Bái không mấy thay đổi, đầu thế kỷ 20 còn mang nhiều dáng dấp của đồng bào Bắc Bộ; sau năm 1945, rồi từ ngày đất nước mở cửa hòa nhập đến nay, y phục và cung cách ăn mặc, trang sức trang điểm gần như có sự tương đồng, nhất quán với miền xuôi và thành thị lớn. Các trang phục cắt may hoặc mua sắm của một bộ phận người Kinh ở miền núi gần với trang phục dân tộc, đó chỉ là sở thích chứ không phải do ảnh hưởng từ giao lưu văn hóa.

            Phong tục tập quán và văn hóa tín ngưỡng của người Kinh Yên Bái không còn giữ được đầy đủ như quê gốc đồng bằng. Một phần do quá trình thuyên chuyển cần có sự đơn giản hóa để phù hợp với môi trường mới, phần khác do điều kiện sinh hoạt ở miền núi không cho phép. Chẳng hạn ngày tết nguyên đán nếu đồng bằng, thành phố thì tổ chức thăm viếng, vui chơi, đi hội, đi lễ; tết thanh minh thì tảo mộ; tết trung thu thì rước đèn, ngày rằm, ngày mồng một thì thắp hương… người Kinh ở thôn quê Yên Bái hạn chế hơn; hoặc lễ hỏi - cưới nơi thành phố thường thể hiện sự sang trọng lịch lãm, ở nông thôn miền xuôi thể hiện chất làng quê vừa lễ tiết vừa thâm cổ. Còn lễ hỏi cưới của người Kinh miền núi thì dân dã, gọn gàng. Cố nhiên vẫn giữ cái lễ chung của các bước: ngỏ lời, ăn hỏi, cưới xin và đón dâu. Tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Kinh là thờ cúng tổ tiên. Truyền thống tín ngưỡng này gần như được đại gia đình các dân tộc Việt Nam tôn trọng, hướng theo. Người Kinh miền xuôi tôn thờ bốn vị linh thiêng đất nước: Mẫu Thượng Ngàn, Thần núi Tản Viên, Thánh Gióng, Đức thánh Trần Hưng Đạo, thì ở Yên Bái người Kinh một số nơi đặt bài vị thờ bốn vị này (đến Đông Cuông, đến Thác Bà, đến Bách Lẫm…). Rõ ràng nơi thờ tự các nghi lễ tâm linh của người Kinh ở miền núi gần như không thay đổi so với các vùng quê gốc. Một bộ phận người Kinh miền núi trước đây theo đạo Thiên chúa, đạo Phật, nay chính gia đình, bản thân và con cháu họ có xu hướng thoát đạo, bà con muốn coi đây là sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người cầu cho sự sống nhân đức, thuỷ chung, khỏe mạnh, thành đạt hơn.

            Văn hóa ẩm thực chịu ảnh hưởng của miền núi, các món ăn và cung cách sinh hoạt ăn uống độc đáo, kiểu cách như kỹ thuật thủ công chế biến hải sản, sản vật, bạn khách  nhâm nhi chén trà, ly rượu… không còn được chú trọng; đồng bào tiếp nhận các món ăn dân tộc, cung cách tiếp khách, sinh hoạt ăn uống không cầu kỳ, cốt sao thể hiện ngon miệng trong bữa ăn, thể hiện lòng mến khách trong giao tiếp.

            Sinh hoạt văn hóa và nghề truyền thống của người Kinh ở Yên Bái mang tính quần chúng, phổ thông nhiều hơn độ chuyên sâu. Có lẽ do nguồn gốc lịch sử, Yên Bái là nơi hội tụ người Kinh từ nhiều vùng quê khác nhau qua nhiều thế kỷ nên các loại hình văn hóa như: sàn diễn, âm nhạc, hội họa, làng nghề truyền thống… chưa trở thành món ăn tinh thần đặc sắc.

            Văn học truyền miệng và văn học viết của người Kinh có rất sớm. Văn học viết bắt đầu từ các bản văn tự Hán nôm đời Trần qua các bản gia phả, chúc thư, hiện vật khảo cổ và chữ la tinh, chữ quốc ngũ sau này. Văn học dân gian cũng xuất hiện khoảng thời gian đời Lý - Trần hoặc sớm hơn vài ba thập kỷ. Các truyện cổ nổi tiếng ở đồng bằng như Tấm Cám, Cóc kiện Trời, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, Thánh Gióng, Cây khế… được đưa lên miền núi lưu truyền sâu rộng trong nhân dân, thậm chí trở thành mô típ cho các sáng tác dân gian của người dân tộc thiểu số. Câu ca dao:

Còn tiền chợ Ngọc chợ Ngà

Hết tiền xuôi ngược Thác Bà, Thác Ông, hay  Muốn ăn gạo trắng nước trong,

Vượt qua Đèo Ách vào trong Mường Lò; chắc chắn có từ xa xưa. Rồi qua cuộc khởi nghĩa Cần Vương, khởi nghĩa Yên Bái, các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay; đồng bào Kinh Yên Bái tiếp tục có những tác phẩm văn học viết tác phẩm văn học truyền miệng được nhân dân thừa nhận, lưu truyền. Đó là niềm tự hào, là giá trị văn hóa đích thực chẳng những của dân tộc Kinh mà còn của cả gia đình các dân tộc Yên Bái.