• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Yên Bái.
 
ĐI TÌM DẤU TÍCH CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN CẦN VƯƠNG CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN QUANG BÍCH Ở YÊN BÁI (1)
Ngày xuất bản: 29/06/2016 7:46:50 SA

 

Hà Lâm Kỳ

            Lịch sử Yên Bái ghi lại:  Từ năm 1886 đến năm 1890, nhân dân các dân tộc Yên Bái hưởng ứng chiếu Cần Vương của Vua Hàm Nghi(2), tập hợp dưới lá cờ của lãnh tụ Nguyễn Quang Bích, kháng chiến chống Pháp trên đất Tây Bắc(3).

            Cũng như Phú Thọ, Yên Bái vinh dự là một trong số ít những địa phương có “đại bản doanh” chống Pháp của  thủ lĩnh Cần Vương thế kỷ XIX, mà ở đây Nguyễn Quang Bích – Ngư Phong, đã đạt tới tiêu chí “Lãnh tụ” – linh hồn của cuộc kháng chiến giữ nước khi chưa có Đảng Cộng sản lãnh đạo - ở miền Tây Bắc.

           Đã 120 năm  kể từ khi ngọn lửa Cần Vương ở Yên Bái bị dập tắt, người dân ở nơi đây, đường đất nơi đây, sử sách nơi đây, vẫn truyền tụng những gì tốt đẹp nhất về Lãnh tụ Nguyễn Quang Bích và các trợ thủ, các tướng lĩnh cũng như quân sỹ của ông. Tuy nhiên, năm tháng lùi xa, lời truyền ngắt đoạn, thiên tai vùi lấp, đến cả sách vở cũng gập nát, phiêu lạc, thì việc tìm lại dấu tích nghĩa sỹ Cần Vương ở miền rừng núi này là một công việc thật sự khó khăn.

            Trước hết nói về địa danh.

            Tìm hiểu về căn cứ kháng chiến của Nguyễn Quang Bích ở Yên Bái ngày nay, theo chúng tôi, cần đặt vấn đềVùng Văn Chấn - Mường Lò chứ không chỉ Nghĩa Lộ như một số ý kiến, nó dễ dẫn đến cách hiểu địa danh hành chính, làm giới hạn phạm vi nghiên cứu.

            Lần theo sử sách, khoảng tháng 4 năm 1886, khi thành Hưng Hóa thất thủ, Tuần phủ Nguyễn Quang Bích “lên ngựa và rút khỏi thành Hưng Hóa an toàn để bắt đầu tổ chức cuộc kháng chiến lâu dài” (4). Nơi ông lên ngựa, bí mật kéo binh

_______________________________

(1) Tham luận của Nhà văn Hà lâm Kỳ, Trường Cao đẳng VHNT&DL Yên Bái tại Hội thảo khoa học về Danh nhân Nguyễn Quang Bích do Hội Khoa học Lịch sử và UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức ngày 10 tháng 1/2011.

(2) Chiếu Cần Vương (cứu Vua) do vua Hàm Nghi ban ngày 13 tháng 7 năm 1885.

(3) Địa phương học. Giáo trình giảng dạy. Trường Cao đẳng VHNY&DL Yên Bái năm 2010.

(4) GS Dương Xuân Nam. Nguyễn Quang Bích, Nhà yêu nước, nhà thơ. NXB KHXH  1994.

lính chiến bại hướng  thẳng đến ấy là Văn Chấn của rừng núi Tây Bắc. Văn Chấn, khi đó là châu thuộc phủ Quy Hóa, Tỉnh Hưng Hóa. Châu Văn Chấn có sách Nghĩa Lộ. Thời kỳ này Nghĩa Lộ trực thuộc Đạo quan binh thứ tư miền thượng du Bắc kỳ. Khi tỉnh Yên Bái được thành lập ngày 11 tháng Tư năm 1900 thì Nghĩa Lộ là một xã thuộc tổng Phù Nham của Châu Văn Chấn, từ đây Nghĩa Lộ được mở rộng hơn.

            Năm 1992 khi làm cuốn truyện tranh Tướng quân Nguyễn Quang Bích và căn cứ Nghĩa Lộ, tôi cũng cho rằng Đại bản doanh của Thủ lĩnh đặt tại Trung tâm sách Nghĩa Lộ, nơi mà sau này Pháp lập đồn Nghĩa Lộ Phố, đến khi đọc bài “Vài hoạt động của Nguyễn Quang Bích qua tư liệu Thái của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn (1), nhận thấy đây là vòng ngoài của căn cứ, có thể chỉ là trung tâm chỉ huy tạm thời, còn Đại bản doanh ở sâu trong núi. Điều này phù hợp với lời kể của một số vị cao niên khi tôi đi sưu tầm tư liệu viết truyện vào năm 1989, 1990.

            Cụ Bùi Lạc (còn có tên người Mông là Giàng Nủ Lử), lão thành Cách mạng ở Thị xã Nghĩa Lộ kể: Năm 1944, ông đóng vai người buôn trâu vào một bản của xã Nghĩa An (nay thuộc thị xã Nghĩa Lộ) để vận động quần chúng, nhân nói chuyện Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng(2), một ông già Thái hào hứng kể, họ Cầm của ông ở Mường Lò theo  Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng, rồi lại theo Thủ lĩnh đánh Pháp. Bùi Lạc hỏi: - Thủ lĩnh nào? Ông già nói: - Thủ lĩnh Bố Giáp. Lại hỏi: - Ở đâu? Trả lời:- Trên núi Lò! Núi Lò, tiếng Thái là Pu Lo, quả đổi yên ngựa phía sau suối Nung, dưới chân xã Nghĩa Sơn. Cụ Bùi Lạc nói thêm: - Sau hòa bình, về thăm lại các làng bản nơi từng hoạt động Việt Minh, người dân Thái ở đây mỗi lần nhắc đến thủ lĩnh Cầm Hánh, là nhắc đến thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích và Bố Chánh Nguyễn Văn Giáp như niềm tự hào truyền thống đánh giặc của họ.

            Cũng thời gian trên, tôi gặp ông Phạm Ngọc Quỳnh, Đại tá, nguyên Phó Ty Công an Tỉnh Nghĩa Lộ  (trước đây).  Ông Quỳnh  là cháu  đích  tôn  của cụ Phạm

__________________

(1) GS Đặng Nghiêm Vạn. Nguyễn Quang Bích Nhà yêu nước, nhà thơ. NXB KHXH. 1994

(2) Quân Thái Bình Thiên quốc bị nhà Thanh đàn áp, chạy sang VN năm 1863 chia làm ba phái: Quân cờ Trắng, cờ Vàng (mầu cờ) tàn bạo như thổ phỉ, quân cờ Đen trợ giúp Tôn Thất Thuyết đánh Pháp.

Đình Khải, cụ Phạm Đình Khải và cụ Phạm Đình Thọ là anh em họ mạc ở xã Đại

 Lịch.  Khi  Nguyễn  Quang  Bích chiêu binh,  hai ông đã vận động người Tày vùng này tham gia nghĩa quân(1), hai ông được Tướng quân Nguyễn Quang Bích phong Lãnh, dân bản thường gói là Lãnh Tế, Lãnh Năm:           Đêm qua trời đổ mưa rào/ Thương hai ông Lãnh đi vào miền trong (ca dao địa phương)! Sau khi thắp hương cho ông nội, ông Phạm Ngọc Quỳnh nói: - Có hai câu chuyện mà bố tôi (Liệt sỹ Phạm Ngọc Tự, con trưởng cụ Phạm Đình Khải) thường kể về ông nội cho con cháu nghe trong đó có việc một lần Thủ lĩnh (Nguyễn Quang Bích) về Lũng Gà (thuộc địa phận làng Bằng Là, xã Đại Lịch, nơi ở của gia đình hiện nay) kiểm tra Lãnh Năm, Lãnh Tế cho quân tập trận, gặp mưa lớn, ngựa không thể lội qua, phải đợi đến gần tối mới sang nổi suối Thé(2). Một lần khác, Lãnh Tế và Lãnh Năm vào tận “phủ” của Thủ lĩnh nhận lệnh, khi rời chân núi, hỏi người dẫn đường:- Đây là chỗ nào? Người dẫn đường nói: - Đây là núi Voi (Pu Chạng), đi ra Thu Cúc cũng được, đi vào Tú Lệ cũng được, đi lên Trạm Tấu cũng được. Tháng 12 năm 2010 vừa rồi, tôi cùng Đại tá công an tỉnh Phạm Ngọc Thắng, con thứ Đại tá Phạm Ngọc Quỳnh về lại gò Lũng Gà, bà Phạm Thị Thức mẹ anh Thắng (tức vợ ông Quỳnh) người chịu hương khói thờ tự họ tộc, nói:- Khi được tin ông Nguyễn Quang Bích mất vì nghĩa lớn, nghĩa binh trở nên rối loạn, ông cụ tôi (Lãnh Tế) gọi người vợ hai và đứa con bé đến, khóc thương Thủ lĩnh rồi ném hết gươm súng xuống ao, sau đó đưa vợ con lên gò Lũng Gà tự sát.

            Tôi tìm gặp ông Hà Đình Tỵ ở xã Thượng Bằng La, Hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, nay đã 75 tuổi, hỏi về bài thơ Đêm ngủ ở Thượng Bằng La của Ngư Phong Nguyễn Quang Bích. Ông Tỵ trả lời: - Không để ý đến bài thơ này, cũng chưa tìm hiểu rõ ngài Thương Thân,  (một trong các vị  tướng người Tày của

________________________

(1)Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm viết: “Nhận thấy tiếp tục đóng giữ nơi đây (Tiên Động Phú Thọ-HLK) sẽ không có lợi vì kẻ thù đã thông tỏ đường đi lối lại. Nguyễn Văn Giáo quyết định rút quân về Đại Lịch châu Văn Chấn”. (Trích tài liệu Hội thoả của GS Đinh Xuân Lâm)

(2) Theo GS Đinh Xuân Lâm, đó là ngày 3 tháng 7 năm 1887.Có thể đây là dịp tạo cảm hứng để Nguyễn Quang Bích,hiệu là Ngư Phong, làm nên bài thơ “Đại Lịch đạo trung ngộ vũ” (Gặp mưa trên đường Đại Lịch.)

Nguyễn Quang Bích) là ai, nhưng qua lời kể truyền miệng trong nhân dân thì chắc

chắn Nguyễn Quang Bích có cho hạ trại đóng quân ở Ba Khe một thời gian để chiêu binh mộ sỹ rồi mới vào Mường Lò.  Nơi  ngài đặt  sở chỉ huy  là khu vực nhà

 máy chè bây giờ. Nơi đây cũng có ngọn núi có tên là Pu Thương  (Núi Thương),  có thể, tích của núi này có quan hệ với ngài Thương Thân chăng?

            Khi tôi cùng anh Hồng, cán bộ Phòng Văn hóa Văn Chấn đến xã Thanh Lương và xã Hạnh Sơn của Văn Chấn để tìm hiểu về thành Viềng Công của anh em thủ lĩnh Cầm Hánh chống giặc Cờ Vàng thì được nghe những người dân Mường, dân Thái truyền miệng nhau câu chuyện Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích thấy xung quanh Viềng Công có nhiều tre mà người địa phương gọi là tre thiêng, ông liền ra lệnh  trồng tre dọc theo hai bờ suối Thia để tạo nên những hàng rào tre chống giặc Pháp, và chính nơi bờ tre suối Thia này, quan hai Pháp Noóc-kê đã bị nghĩa quân của Đề Kiều (Hoàng Văn Thuý) đâm chết trong một trận chúng giao chiến đánh chiếm thành Nghĩa Lộ. Người dân Thái (trong đó có ông Lò Văn Biến 74 tuổi, nay còn khoẻ) nói rằng, chân đồi Pu Chạng (Bên ngoài núi Voi) về phía đông là nơi có cột mường của người Thái đen Mường Lò, hàng năm cứ vào một ngày đầu tháng giêng là đồng bào tụ họp để làm lễ cúng mường (xên mương). Nơi này nằm trong khu trung tâm của Nghĩa Lộ nên Cầm Hánh cho xây dựng “cửa” Nghĩa Lộ chống giặc Cờ Vàng khoảng từ năm 1879-1880. Khi Nguyễn Quang Bích kéo quân từ Hưng Hóa lên, đã chọn “cửa” Nghĩa Lộ làm trung tâm chỉ huy của mình để dễ tập hợp lực lượng. Giữa năm 1887 khi các tù trưởng dân tộc thiểu số Văn Chấn như Phạm Đình Khải, Phạm Đình Thọ ở Đại Lịch. Thương Thân ở Thượng Bằng La, Lý Hữu Kim ở Nậm Mười, Đặc Phúc Thịnh ở Sơn A, Đào Chinh Lục, Giàng Nủ Klơ ở Nậm Khắt chiêu mộ binh sỹ tự nguyện theo Hiệp Thống đánh Pháp, Nguyễn Quang Bích cắt cử tướng lĩnh canh chốt các trọng điểm vào Mường Lò, và chủ động rời sở chỉ huy vào chân dẫy Pu Chạng (Núi Voi), nơi có thung lũng nằm giữa hai con suối là suối Tộc và suối Đông (Nậm Tộc, Nậm Đông) giáp ranh của hai xã Nghĩa Sơn và Hạnh Sơn trước đây, lúc đó vẫn thuộc sách Nghĩa Lộ, thành Nghĩa Lộ trở thành cửa tiền trước Đại bản doanh bí mật của Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích.

            Qua một số tư liệu điền dã trên đây, chúng tôi có nhận xét như sau: Khi Hiệp Thống Nguyễn Quang Bích rời thành Hưng Hóa lên Tây Bắc có thể đi theo đường Ngòi Lao, đi đến đâu,  ông tạo ảnh  hưởng lớn  đến đấy nên nhanh chóng quy phục được các thủ lĩnh dân tộc thiểu số và người dân yêu nước, họ đã tự nguyện tập hợp dưới cờ Cần Vương để đánh Pháp. Chỉ riêng ở Yên Bái, nơi ông đã đặt sở chỉ huy hoặc trực tiếp đến tuyển mộ, động viên quân sỹ là Phong Dụ Hạ, Việt Hồng, Đại Lịch, Cát Thịnh (Ba Khe), Thượng Bằng La; rồi vào Mường Lò- Văn Chấn, từ đây nhanh chóng rộng ra các địa phương: Nghĩa An, Thanh Lương, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Nghĩa Sơn, Nghĩa Phúc, Nghĩa Lợi, Phù Nham, Sơn A; rồi Trạm Tấu, Gia Hội, Nậm Mười, Nậm Khắt, và mở rộng ra toàn khu vực Tây Bắc. Rất nhiều tướng lĩnh  người dân tộc, gắn bó với quân sỹ và nhân dân, thủy chung son sắt với Hiệp Thống, đánh thắng Pháp nhiều trận mang lại tiếng vang Cần Vương kháng Pháp những năm 80 thế kỷ XIX.

            Về Căn cứ chỉ huy, qua lời kể của một số cụ già và dòng họ, hoặc hậu duệ tướng sỹ của Hiệp Thống, cũng như các câu chuyện dân gian và giai thoại còn lưu lại, có thể xác định các địa danh: Bằng Là (Đại Lịch),  Ba Khe (Cát Thịnh), thành Nghĩa lộ (Mường Lò) là những điểm hạ trại chỉ huy nhất thời (từ 1885 đến 1886). Khi Pháp tập trung tấn công vào Tây Bắc thì Đại bản doanh của Nguyễn Quang Bích và Bố Chánh Nguyễn Văn Giáp được lui về chân Núi Voi (Pú Chạng). Nơi này có thể cùng một lúc chỉ huy được cả ba mặt, hướng tây nam: Đèo Ách, Ba Khe. Hướng đông: Tú Lệ, Gia Hội. Hướng tây: Trạm Tấu. Nơi đây lại có đường rút đi Yên Lập (Phú Thọ), đi Phù Yên (Sơn La), đi Than Uyên (Lai Châu).

            Dưới con mắt của nhà quân sự, khi đã có ý tưởng lớn, dựa vào rừng núi hiểm trở để chống Pháp lâu dài thì cần tìm nơi thuận lợi nhất có thể chiêu mô binh sỹ, tập hợp tướng lĩnh, luyện tập binh đao, gây thanh thế. Chủ soái Nguyễn Quang Bích luôn có sự di chuyển trong khu vực, mà ở đây rất có thể là chân Núi Voi, nơi giáp ranh hai xã Nghĩa Sơn và Nghĩa An của huyên Văn Chấn ngày nay.

                                                                                                                                   HLK