• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Yên Bái.
 
Giới thiệu Luận văn Thạc sỹ Văn hoá Các địa danh ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái liên quan đến lịch sử, văn hóa của người Thái Đen
06/09/2016 8:56:06 SA

 Giới thiệu Luận văn Thạc sỹ Văn hoá Các địa danh ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái liên quan đến lịch sử, văn hóa của người Thái Đen

 

                                                          Th.s HoàngThị  Vân Mai- Trưởng khoa Văn hoá- Du lịch

1. Mường Lò hiện nay

         Mường Lò là một trong 4 cánh đồng lớn của Tây Bắc. Cánh đồng này thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái, rộng khoảng 2300 ha. Qua quá trình lịch sử và các lần thay đổi dịa dư hành chính, Mường Lò hiện nay nằm trong địa giới huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ của tỉnh Yên Bái.

         Đây là nơi tập trung phần lớn số lượng người Thái Đen của tỉnh Yên Bái. Đa số người dân vẫn giữ được nét văn hoá cơ bản của dân tộc mình và bảo tồn chúng trong những nếp nhà sàn, trong từng thiết chế thôn bản và đời sống cộng đồng.

Quá trình khai phá, tụ cư, giao lưu tiếp xúc của người Thái Đen ở Mường Lò đã để lại trong những địa danh dấu ấn văn hóa tộc người 

2. Các địa danh ở Mường Lò và giá trị lịch sử văn hoá của chúng

          Qua quá trình điền dã, nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi sưu tầm được 135 địa danh và chia các địa danh theo nhóm các ý nghĩa sau: 

2.1. Địa danh phản ánh lịch sử tộc người

          Người Thái Đen do Tạo xuông, Tạo Ngần dẫn đường di cư từ Mường Ôm, Mường Ai đến Mường Lò. Những địa điểm đầu tiên như: bãi cát vàng - Tạo đặt tên là Sài Lương (từ đó có bản Sài Lương - xã An Lương); rồi hai Tạo cùng đoàn người ngược dòng suối trong đến một bãi ruộng toàn là “cây ưởng” - Tạo đặt tên cho bãi này là Pá Ưởng, Pá Pắng (hiện nay thuộc bãi màu của nông trường Liên Sơn). Lúc này Mường Lò đã có người Mán (Dao), người Mọi (Mường) ở. Tạo dừng lại ở Pá Ưởng cho người lén lút đi thăm dò. Người thăm dò vào qua suối Thia, men theo sườn núi gặp một chiếc ao to, Tạo đặt tên là Noong Dăm (nay ở bản Cóc, xã Sơn A) hiện vẫn còn vết tích là bãi chằm…

          Quá trình phân chia, thiết lập tổ chức của Mường Lò cũng được làm rõ qua sự tồn tại của những địa danh: Mường Lò Luông (khu vực thị xã Nghĩa Lộ); Mường Lò Cha (xã Hạnh Sơn đến giáp huyện Trạm Tấu); Mường Lò Gia (từ suối Đôi đến bản Sài Lương của xã An Lương). Từ các mường này lại chia thành các xổng như xổng Pằn, xổng Pọng, xổng Cuông, xổng Lăm Ho, xổng Ho Luông.v.v

Ngoài ra những địa danh như: Núi Ngàm Cha, bản Viềng Công, luỹ tre ken dày ở xã Phúc Sơn, Nghĩa Sơn hay Thẩm  Han đều phản ánh cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của cư dân nơi đây. 

2.2. Địa danh ở Mường Lò phản ánh hoạt động kinh tế sản xuất cư trú và xã hội tộc người

          Qua thống kê và tìm hiểu các địa danh ở Mường Lò, chúng tôi thấy số lượng lớn tên bản phản ánh đời sống kinh tế sản xuất và cư trú của cư dân Thái Đen. Trong số 135 địa danh mà chúng tôi đã giải mã có 90 địa danh phản ánh lịch sử cư trú, hoạt động kinh tế của người Thái. Đó là những bản lập lên dựa trên điều kiện địa hình. Đó chủ yếu là những nơi thuận lợi với nguồn nước hoặc thuận lợi đi lại - nơi bằng phẳng, đồng thời những tên bản này cũng gắn bó chặt chẽ với địa hình phục vụ canh tác lúa nước:  Bản khấp khểnh phải đào bới thành ruộng, thành bản (bản Chao Hạ, Chao Thượng); nơi có địa hình cao hẳn lên (Bản Ten) hay trũng hẳn xuống (bản Loọng) hoặc nơi có đất bị nứt toác ra (ả Hạ); nơi đất rất bằng phẳng (bản Phiêng); nơi nước tràn lên và không thoát được (bản Van); nơi nước chua (bản Búng Sổm); nơi có khe nhỏ dồn nước lại (bản Tùn); bản ở giữa cánh đồng (Cang Nà); nơi vùng đất đỏ (bản Lanh); nơi hai dòng suối gặp nhau (bản Lăm); nơi mặt ruộng thấp (Nà La)…

           Ngoài ra một bộ phận lớn địa danh được đặt theo đặc điểm tự nhiên (cây cối, con vật, ao, suối…). Những địa danh được đặt theo tên những cây đặc trưng như : Cây cau (Nà Làng; Pá Làng); cây ngoã (bản Ngoa); cây cọ (Tông Co); cây trám đen (bản Bay); cây sậy (bản ỏ, Noong ỏ); cây bồ quân (bản Quân); cây củ đao (bản Đao); cây sấu (bản Cốc Củ); cây vải (bản Cại); cây đào (bản Tao); cây dọc (bản Lụ); cây muỗng (bản Muông); cây gừng (bản Khinh); cây riềng (bản Khá); cây hạt dẻ (bản Có); cây chít (bản Khem); cây bương (bản Hốc); cây hoa ban (Nà Ban; Đồng Ban; Pom Ban); cây đinh thối (Nà Kè); cây quế (bản Suối Quẻ); cây culy (Nà Loóng); cây sấu (huổi Cụ Nọi, huổi Cụ Nhớ)… Đây là những loại cây khá gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người Thái Đen. Chúng cũng cho thấy hẳn xưa kia những nơi cư trú này khi được khai phá đã mang những đặc điểm như vậy. Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất này những  sản phẩm tự nhiên cây cối đa dạng. Chúng gắn bó với con người trong đời sống sinh hoạt rồi lại tồn tại như một gợi nhớ, nhắc nhở. Tuy nhiên một số đặc điểm ban đầu này đến nay không còn nữa mà chỉ “ở lại” trong những địa danh như vậy.

           Tên bản đặt theo tên con vật như: Con nai (Điệp Quang), con ngựa (Mạ); con chim cu (bản Tủ); con dơi (thẩm Kia)… theo sự giải thích của người dân địa phương, đây là những nơi có nhiều con vật đến như những con nai đến bên suối; nhiều con chim cu đến làm tổ.v.v. Chỉ có ba bản đặt tên theo đặc điểm như vậy. Điều này cho thấy vùng đất Mường Lò xưa có hệ thực vật phát triển phong phú hơn hệ động vật. Chính đặc điểm này đã chi phối đời sống kinh tế, đặc biệt là hoạt động khai thác tự nhiên của cư dân nơi đây.

           Một số nơi lại được đặt tên theo ao, suối như bản Ao Luông (ao to), bản Suối Quẻ, huổi Nậm Bó. Như thế mặc dù những bản của người Thái tuy gần nguồn nước nhưng tỷ lệ đặt tên theo dòng suối là rất ít.

           Tóm lại, nơi cư trú của người Thái Đen được phản ánh trong những tên bản như trên cho thấy chủ yếu là dựa theo đặc điểm địa hình, đặc điểm về cây cối.

Theo chúng tôi cách đặt tên bản như vậy phần nào đã nói lên tư duy, tình cảm của người Thái đen trước tự nhiên. Họ sống gắn bó với rừng núi, cây cối, ao, suối nên họ lấy chúng làm đặc điểm cơ bản để lập nên bản, lập nên nơi cư trú cố định của mình. Đó cũng là sự bộc lộ tình cảm hoà mình với thiên nhiên. Coi tự nhiên là ngôi nhà chung. Không những thế chúng còn phản ánh một phần đời sống kinh tế hái lượm nổi trội hơn là săn bắn của cư dân ở thuở ban đầu khai phá vùng đất Mường Lò.

            Những tên bản gắn bó với nơi cư trú của người Thái như thế này biểu hiện tư duy cụ thể của con người trong những buổi đầu đời sống sơ khai và thông qua một loại ngôn ngữ lúc đầu con đơn giản. Có nghĩa là về niên đại chúng phải ra đời vào thời điểm người Thái đến định cư ở vùng đất Mường Lò và sớm  cư trú trong những bản có đặc thù như đã trình bày.  

Bên cạnh địa danh phản ánh nơi cư trú còn có những địa danh cho thấy hoạt động kinh tế, sản xuất của người Thái Đen. Đó là hình thức thuỷ lợi Mương - Phai: Bản Coỏng Mương; Phai Lò; Nang Phai; Nặm Tọ; Nà Lốc - đây là những biện pháp thuỷ lợi quen thuộc mà người Thái đã sử dụng trong canh tác lúa nước - một hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân ở Mường Lò hay một kinh nghiệm sản xuất trong nông nghiệp: Co Hả. 

           Về mặt xã hội, một số địa danh cho thấy vai trò của những người có tiếng nói trong bản Mường như bản Phán, Tông Poọng, Chiêng Pằn. Đây là những chức danh được xã hội coi trọng mà không phải là tên riêng của một người nào đó cụ thể. Hay tên của một dòng họ cư trú tập trung ở bản (bản Đường nơi họ Lường sinh sống); bản mới được thành lập như bản Mớ… 

2.3. Địa danh ở Mường Lò phản ánh văn hoá của người Thái Đen

Trước hết nói đến văn hoá vật chất đó là các địa danh gắn với văn hoá ẩm thực như món rêu đá, cá xỉnh từ dòng Nậm Xia; bản Xẳng, Nà Vặng, bản Bản là tên của những thứ rau ăn kèm với măng đắng, cá chua.

            Ngoài ra địa danh cũng phản ánh kho tàng văn học dân gian như các mô típ tình yêu đôi lứa không thành do không môn đăng hậu đối và cùng chết một cách thảm thương của dòng Nậm Xia; những câu chuyện về tình yêu đôi lứa xuất phát từ tục chơi hang Thẩm Lé… các tác phẩm này đều phản ánh đời sống tinh thần của người Thái Đen và ước mơ tâm tư của họ về tương lai tốt đẹp hơn.

Các địa danh: Đông Quái Hà - nơi người chết gửi hồn trâu trước khi lên trời; Nậm Tốc Tát - thác nước dẫn hồn người chết lên trời đều là những địa danh làm cho Mường Lò trở thành nơi hiện hữu về văn hoá tâm linh.

          Trong các địa danh ở Mường Lò không chỉ thuần nhất yếu tố Thái mà còn có các yếu tố của sự giao thoa văn hoá giữa người Thái Đen và các dân tộc đã - đang cư trú ở vùng Mường Lò. 

KẾT LUẬN 

Địa danh ở Mường Lò hiện  nay tồn tại đa dạng phong phú bao gồm tên suối, thác, ao, núi, hang, khe, rừng, tên bản, ruộng, cánh đồng với số lượng là 135 địa danh.

           Đó là một phần ký ức tộc người được phản ánh trong các địa danh. Đặc biệt là quá trình khai phá, định cư tại Mường Lò cùng với những hoạt động kinh tế sản xuất quen thuộc từ bao đời nay đã đọng lại trong những địa danh. Những nét văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần cũng được giữ gìn bảo tồn trong các địa danh ấy. Tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hoá cuả những địa danh ấy sẽ góp phần làm phong phú hơn kho tàng văn hoá của người Thái Đen nói chung và người Thái Đen ở Mường Lò nói riêng. Khai thác và sử dụng các địa danh một cách hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy kinh tế - văn hoá - xã hội ở vùng Mường Lò, làm cơ sở cho sự hội nhập và phát triển  của người Thái Đen trong khu vực Tây Bắc cũng như ở khu vực Đông Nam Á.